Xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật về chỉ đạo, phối hơp giữa lực lượng Công an xã chính quy đối với lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở
Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở bao gồm công an xã bán chuyên trách, lực lượng bảo vệ dân phố, dân phòng được xem như “cách tay nối dài” của lực lượng Công an nhân dân (CAND) trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở cơ sở. Thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an, lực lượng Công an xã chính quy đã từng bước được xây dựng, kiện toàn. Tuy nhiên các quy định của pháp luật về phối hợp giữa công an xã chính quy với lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở hiện nay còn nhiều điểm chồng chéo, chưa phù hợp và thiếu đồng bộ. Trên cơ sở phân tích, làm rõ những bất cập, hạn chế, vướng mắc, bài viết đề xuất một số phương hướng nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng lực luợng CAND. Các quan điểm, chủ truơng xây dựng lực luợng CAND liên tục được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tố quốc qua từng thời kỳ. Truớc những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nuớc trong giai đoạn mới, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng buớc hiện đại” đồng thời, xác định “Một số lực luợng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” [3], Các yếu tố “cách mạng”, “chính quy”, “tinh nhuệ”, “hiện đại” là một chỉnh thể thống nhất trong mục tiêu xây dựng lực luợng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện. Trong đó, “chính quy” là một yêu cầu tất yếu, xuất phát từ đặc thù của lực luợng vũ trang. Để đảm bảo tính “chính quy” lực luợng CAND cần “thuợng tôn pháp luật”, xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm, nền nếp những nguyên tắc, quy định tạo sự thống nhất về chính trị, tổ chức và hành động trong toàn lực luợng CAND. Theo đó, hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của lực luợng CAND cần không ngừng được xây dựng và hoàn thiện.
Hiện nay, hệ thống tổ chức của Công an nhân dân được tổ chức theo 4 cấp, bao gồm: (1). Bộ Công an; (2). Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (3). Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; (4). Công an xã, phường, thị trấn [6], Cũng theo quy định của Luật Công an nhân dân, Chính phủ sẽ quy định cụ thể việc xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy. Với mô hình tổ chức như trên, lực lượng CAND đang được bố trí tương ứng với các cấp hành chính. Theo đó, chức năng, nhiệm vụ, công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của lực lượng CAND cũng đang được hoàn thiện theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”. Trong đó, Công an chính quy xã, phường, thị trấn là công an cấp cơ sở thuộc hệ thống của tổ chức Công an nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự tại cơ sở.
Là lực lượng mới được triển khai bố trí cán bộ chính quy trong những năm gần đây, lực lượng Công an cấp xã đã và đang nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, toàn diện của Đảng ủy Công an trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và Công an các đơn vị, địa phương, thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định từ công tác xây dựng lực lượng đến tổ chức thực hiện các mặt công tác theo chức năng, nhiệm vụ. Trong đó:
- Về công tác cán bộ, tổ chức bộ máy: Thực hiện Nghị quyết số 22- NQ/TW ngày 15/3/2018 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, từ năm 2018 đến nay, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an đã lãnh đạo Công an các đơn vị, địa phương từng bước bố trí lực lượng Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã. Đến nay, Công an 63/63 địa phương đã điều động hơn 43.000 cán bộ Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã tại 7.872 xã, thị trấn [1]. Về tổ chức bộ máy, theo Thông tư số 46/2021/TT-BCA ngày 05/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an xã”, Công an xã do Trưởng Công an xã chỉ huy, có 02 Phó Trưởng Công an xã, riêng đối với xã được công nhận phân loại đơn vị hành chính cấp xã loại I hoặc xã trọng điểm phức tạp về ANTT có thể có 03 Phó Trưởng Công an xã. Về số lượng cán bộ, trung bình từ 03 đến 05 cán bộ.
- Về công tác xây dựng văn bản chỉ đạo, văn bản pháp luật tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho tổ chức và hoạt động: Thời gian qua, để xây dựng, tổ chức và hoạt động của lực lượng Công an xã chính quy, cùng với việc áp dụng các quy định của pháp luật đã ban hành, Đảng ủy Công an trung ương, Bộ Công an cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công an các đơn vị địa phương; khẩn trương hoàn thiện, tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định liên quan đến xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy; tích cực phối hợp với các bộ, ngành trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy. Đáng chú ý, ngày 05/5/2021 Bộ trưởng Bộ Công an đã ký, ban hành Thông tư số 46/2021/TT-BCA “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an xã”. Đây là văn bản quy phạm pháp luật rất quan trọng, kịp thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng đế lực lượng Công an xã chính quy triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ, chỉ đạo và phối hợp với các lực lượng khác nhằm bảo đảm vững chắc an ninh, trật tự tại cơ sở.
- Về một số kết quả công tác: Qua gần 5 năm triển khai thực hiện chủ trương xây dựng công an xã, thị trấn chính quy trên toàn quốc, Bộ Công an cũng đã có những sơ kết, tổng kết ở các phạm vi khác nhau để đánh giá hiệu quả thực hiện. Có thể khẳng định, trong gần 5 năm qua, vượt qua mọi khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt, lực lượng Công an xã, thị trấn chính quy (gọi chung là Công an xã chính quy) trong toàn quốc đã nhanh chóng triển khai bám cơ sở, bám dân; tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm soát đảm bảo ANTT; công tác xử lý tin báo tố giác tội phạm, quản lý các đối tượng tại cơ sở, công tác nghiệp vụ cơ bản, xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh và thực hiện bài bản, chuyên nghiệp, hiệu quả hơn; công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền cơ sở ban hành và triển khai kế hoạch, biện pháp nghiệp vụ, nhằm đảm bảo tình hình ANTT được triển khai kịp thời, bám sát tính chất đặc thù các địa bàn. Qua đó, chất lượng công tác bảo vệ ANTT ở cơ sở được nâng lên, có những chuyển biến rõ nét trong kiềm chế tội phạm và vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng hình ảnh lực lượng Công an nhân dân gần dân, vì nước quên thân, vì dân phục vụ, tất cả vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân.
Như vậy, đến nay, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an xã chính quy đã được xác định rõ trong các quy định của pháp luật. Đồng thời, những kết quả công tác của lực lượng Công an xã chính quy đã khẳng định rõ vai trò nòng cốt của lực lượng này trong đảm bảo ANTT tại cơ sở. Để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đạt những thành tựu quan trọng như thời gian qua, cùng với sự nỗ lực, vượt qua khó khăn, gian khổ, lực lượng Công an xã, thị trấn chính quy có sự tham gia phối hợp rất quan trọng của các bảo vệ ANTT ở cơ sở như: Công an xã bán chuyên trách, Bảo vệ dân phổ, Dân phòng.... Có thể khẳng định yêu cầu phối hợp với các bảo về ANTT ở cơ sở xuất phát từ yêu cầu khách quan từ tình hình thực tế hiện nay. Địa bàn các xã phần lớn là vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo, dân tộc thiểu số..., địa bàn rộng, dân cư vừa tập trung theo các bản, làng, vừa trải khắp trên địa bàn rộng. Trong khi đó, số lượng cán bộ Công an xã còn rất hạn chế (phần lớn 3 đến 5 cán bộ, một số xã cụ thể có 9 cán bộ), khối lượng công việc nhiều, cả lĩnh vực nghiệp vụ An ninh và nghiệp vụ Cảnh sát. Do vậy, việc tiếp tục sử dụng các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở (Công an bán chuyên trách, Bảo vệ dân phố, Dân phòng...) là rất cần thiết, là đòi hỏi từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ ANTT tại cơ sở trong tình hình hiện nay. Việc tổ chức tốt quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa lực lượng Công an xã chính quy với các bảo vệ ANTT ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo đảm ANTT ở cơ sở.
Tuy vậy, qua khảo sát, nghiên cứu hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành cho thấy, quy định của pháp luật làm cơ sở pháp lý cho sự chỉ đạo, phối hợp giữa Công an xã chính quy với bảo vệ ANTT ở cơ sở hiện nay còn có những điểm bất cập hoặc chưa đầy đủ, cụ thể là:
Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quan hệ công tác của Công an xã chỉnh quy (chủ thể chỉ đạo, phối hợp) trong bảo đảm ANTT còn chưa thống nhất
Quan hệ công tác của Công an xã chính quy chỉ rõ trong Thông tư số 46/2021/TT-BCA ngày 05/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an xã”. Cụ thế là: “Trưởng Công an xã chịu sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Trưởng Công an huyện về kế hoạch, biện pháp công tác bảo vệ ANTT, xây dựng lực lượng Công an xã”; “Trưởng Công an xã chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, ủy ban nhân dân xã trong tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định, kế hoạch về công tác bảo vệ ANTT; báo cáo về công tác bảo vệ ANTT trên địa bàn xã theo quy định”; “Quan hệ giữa Công an xã với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội là quan hệ phối hợp, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT.. ” [2].
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật hiện hành cũng có các quy phạm còn bất cập, chồng chéo với quy định nêu trên. Hiện nay, về nguyên tắc thì Pháp lệnh Công an xã (năm 2008) vẫn còn hiệu lực, trong đó có nhiều điểm bất cập với mô hình tổ chức Công an xã chính quy. Một số quy định trong các luật khác cũng có thể tạo nên những xung đột trong thi hành pháp luật, chẳng hạn như: Khoản 2 Điều 33 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Hội đồng nhân dân xã có quyền quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã. Khoản 2 Điều 36 Luật này quy định Chủ tịch ủy ban nhân dân xã có quyền lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân [4], Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đang quy định Trưởng Công an xã là công chức cấp xã [5],
Những quy định của pháp luật trên đây phù hợp với mô hình lực luợng Công an xã bán chuyên trách truớc đây. Hiện nay, với mô hình tổ chức lực luợng mới của Bộ Công an, lực lượng Công an xã chính quy cần thiết có sự chỉ đạo xuyên xuốt, tập trung, thống nhất về biện pháp, công tác nghiệp vụ theo ngạch dọc của ngành Công an, đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Những bất cập trong quy định của pháp luật nêu trên có thể dẫn đến ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp xã sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác của Công an xã chính quy cũng như các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở như với lực lượng Công an xã bán chuyên trách trước đây, thậm chí chỉ đạo cả công tác, biện pháp, hoạt động nghiệp vụ của Công an xã. Đây là những nội dung cần tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, đánh giá và tham mưu điều chỉnh, sửa đối cho phù hợp, nhằm phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Công an xã chính quy trong bảo đảm ANTT ở cơ sở. Chỉ trên cơ sở xác định rõ vai trò nòng cốt trong bảo đảm ANTT ở cơ sở, lực lượng Công an xã chính quy mới có thể chủ động phát huy vai trò chỉ đạo, phối hợp với các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở.
Thứ hai, các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, quan hệ phối hợp của bảo vệ ANTT ở cơ sơ chưa được hoàn thiện
Trong thực tế, hiện nay, lực lượng Công an xã chính quy đã và đang phối hợp, huy động nhiều quần chúng tự nguyện làm nòng cốt trong xây dựng các mô hình tự quản về ANTT, giúp lực lượng Công an cấp xã trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc hên địa bàn cấp xã. Đây là các lực lượng có tính chất tham gia hỗ trợ lực lượng Công an xã chính quy trong công tác bảo đảm ANTT tại cơ sở, thực hiện những nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực và yêu cầu cụ thể, hoàn toàn không trùng lặp với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an xã chính quy. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có quy định nào của pháp luật quy định cụ thể, thống nhất về nhiệm vụ, quan hệ công tác, cơ chế chỉ đạo, phối hợp của bảo vệ ANTT ở cơ sở với các cơ quan, tổ chức, lực lượng có liên quan ở địa bàn cơ sở, nhất là với lực lượng Công an xã chính quy, đồng thời cũng chưa có quy định thống nhất về chế độ, chính sách đối vói các lực lượng này trong quá trình hoạt động.
Thời gian qua, Bộ Công an đã chủ trì, nghiên cứu, triển khai Dự án xây dựng Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Tuy vậy, đến nay Dự thảo Luật vẫn chưa được Quốc hội thông qua. Dưới góc độ pháp lý cũng như công tác Công an, việc chưa ban hành Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, cũng như chưa có quy định cụ thể, rõ ràng, thống nhất của pháp luật về các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở đã tạo ra những “khoảng trống” về cơ sở pháp lý cho sự chỉ đạo, phối hợp giữa Công an xã chính quy với các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.
Bên cạnh đó, theo quy định của Nghị định 34/2019/NĐ-CP ngày 25/6/2019 của Chính phủ về “Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cấp thôn, tổ dân phố”, mỗi thôn, tổ dân phố và các đơn vị dân cư tương đương có 03 người giữ chức danh được hưởng phụ cấp hằng tháng là bí thư chi bộ, trưởng ban công tác mặt trận và trưởng thôn (hoặc tưong đương). Đối với từng địa phương, sẽ có sự sắp xếp bố trí chức danh và nhiệm vụ khác nhau, nhưng phần lớn những người thuộc diện trên sẽ đảm nhiệm thêm nhiệm vụ của Công an bán chuyên trách, tổ trưởng dân phố hay dân phòng (đảm nhiệm 02 “vai”, 02 nhiệm vụ). Khi đó, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở vừa chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy, chính quyền cấp xã, vừa nhận sự chỉ đạo và phối hợp với Công an xã chính quy trong công tác bảo đảm ANTT. Điều này cũng có thể tạo nên những bất cập trong quá trình công tác.
Có thể khẳng định, việc bố trí lực lượng Công an xã chính quy là một bước ngoặt quan trọng, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội ngay từ cơ sở. Cùng với việc điều động Công an chính quy, đảm nhiệm các chức danh Công an xã, Bộ Công an đã khẩn trương nghiên cứu, đề xuất xây dựng khung pháp lý để huy động vai trò của bảo vệ ANTT ở cơ sở, nhất là đối với số cán bộ là Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ. Tuy nhiên, với những vướng mắc pháp lý như trên, việc chỉ đạo, phối hợp giữa Công an xã chính quy và bảo vệ ANTT ở cơ sở sẽ còn những khó khăn nhất định.
Thời gian tới, để đảm bảo phát huy tối đa vị trí, vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng Công an xã chính quy trong bảo đảm ANTT tại cơ sở, đặc biệt là phát huy hiệu quả mối quan hệ chỉ đạo, phối hợp giữa lực lượng Công an xã chính quy với các bảo vệ ANTT tại cơ sở, cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, tham mưu hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan. Trong đó, lực lượng CAND cần quan tâm một số vấn đề sau:
Một là, Bộ Công an cần tổng kết 15 năm công tác Công an thực hiện pháp lệnh Công an xã, đồng thời tham mưu Chỉnh phủ chỉ đạo các ban, ngành, địa phương liên quan tông kết việc thực hiện Pháp lệnh Công an xã
Pháp lệnh Công an xã đã ra đời, có hiệu lực 15 năm, trong quá trình tổ chức thực hiện, năm 2016, Bộ Công an đã có Tổng kết 7 năm công tác Công an thực hiện Pháp lệnh Công an xã. Qua đó, Bộ Công an cũng đã có những đánh giá cụ thể, khẳng định vị trí, vai trò và những kết quả quan trọng của lực lượng Công an xã trong sự nghiệp bảo vệ ANTT. Từ năm 2018 đến nay, thực hiện chủ trương của Bộ Công an về việc bố trí lực lượng Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã và nay là lực lượng trực tiếp thực hiện công tác bảo đảm ANTT tại cơ sở. Đến nay, các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở vẫn đang được tiếp tục duy trì hoạt động, tuy nhiên chưa có một tống kết lớn, đánh giá tổng thể, cụ thể về vị trí, vai trò, tác dụng, cơ chế hoạt động, chế độ chính sách đối với lực lượng này dưới góc độ công tác Công an cũng như dưới góc độ từ công tác của các cơ quan, ban, ngành, chính quyền các địa phương. Do vậy, cần thiết có một Tổng kết về việc thực hiện Pháp lệnh Công an xã dưới góc độ công tác Công an. Qua đó, đánh giá sát thực sự cần thiết, vị trí, vai trò của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở, xác định mối quan hệ của các lực lượng này với lực lượng Công an xã chính qưy. Đồng thời, Bộ Công an tham mưu Chính phủ chỉ đạo các địa phương tổng kết thực hiện Pháp lệnh Công an xã, từ đó đánh giá những tác động về chế độ, chính sách đối với các lực lượng Công an xã bán chuyên trách, Bảo vệ dân phố, Dân phòng.... Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để tiếp tục tham mưu Chính phủ, đề xuất Quốc hội điều chỉnh, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của lực lượng Công an xã chính quy cũng như các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở.
Hai là, Bộ Công an cần tiếp tục phổi hợp với các bộ, ban, ngành liên quan tham mưu sửa đổi các quy định của pháp luật còn chồng chéo, bất cặp liên quan đến phạm vi, thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền cấp xã với lực lượng Công an xã chính quy
Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Công an xã chính quy được quy định rất cụ thể, rõ ràng tại Thông tư số 46/2021/TT-BCA ngày 05/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an là hợp lý và khoa học, phù hợp các quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện hành, phù hợp với thực tế triển khai mô hình tổ chức và thực tiễn các hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an xã chính quy. Bộ Công an cần tiếp tục phối hợp với các bộ, ban, ngành nhanh chóng rà soát, sửa đổi hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền sửa đổi các quy phạm pháp luật còn bất cập với nội dung của Thông tư 46/2021/TT-BCA, nhất là những quy định về phạm vi, thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền cấp xã với Công an xã chính quy được quy định trong các luật chuyên ngành.
Bên cạnh đó, trong thời gian sửa đổi, đề xuất sửa đổi các quy định của pháp luật, Bộ Công an cũng cần phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn việc thực hiện quan hệ công tác giữa Công an xã chính quy với cấp ủy, chính quyền cấp xã. Trong đó, nội dung hướng dẫn cần cụ thể, rõ ràng về phạm vi, thẩm quyền chỉ đạo của chính quyền cấp xã với Công an xã chính quy trong công tác bảo đảm ANTT.
Ba là, Bộ Công an tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp và kiên trì phối hợp với các bộ, ban, ngành đề xuất Quốc hội thông qua Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở
Dưới góc độ công tác công an, việc xây dựng và ban hành Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là rất cần thiết, là đòi hỏi của thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để lực lượng Công an, nhất là lực lượng Công an xã chính quy thống nhất chỉ đạo, phối hợp với các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở. Thời gian qua, xung quanh Dự án Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tại cơ sở vẫn có nhiều ý kiến khác nhau bàn về tính cần thiết của việc ban hành, địa vị pháp lý của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở... Do vậy, các cơ quan tham mưu của Bộ Công an cần tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, tổng kết từ cơ sở, từ thực tiễn hoạt động chỉ đạo, phối hợp của lực lượng Công an xã chính quy, đồng thời tiếp thu, giải trình ý kiến từ các Ban của Đảng, các ủy ban của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở đó xem xét, điều chỉnh Dự thảo Luật cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo chặt chẽ, khoa học, sát hợp với thực tiễn. Đồng thời, Bộ Công an tiếp tục kiên trì phối hợp với các bộ, ban, ngành hữu quan để trình Quốc hội thông qua. Từ đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình chỉ đạo, phối hợp giữa Công an xã chính quy và lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Trong đó, Dự thảo Luật cần quy định thống nhất, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT tai cơ sở (Công an xã bán chuyên trách kết thúc nhiệm vụ, dân phố, dân phòng) phù hợp với trình độ, năng lực; mối quan hệ công tác với lực lượng Công an xã chính quy, thể hiện rõ tính chất đây chỉ là các lực lượng tham gia hỗ trợ, là ''Cánh tay nối dài”, hoàn toàn không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng Công an xã chính quy.
Bốn là, lực lượng Công an xã chính quy chủ động tham mưu, đề xuất cấp ủy, chỉnh quyền cấp xã xây dựng, ban hành các văn bản chỉ đạo, phân công nhiệm vụ với các bảo vệ ANTT ở cơ sở phù hợp với đặc thù công tác của từng địa phương
Trong bối cảnh Luật lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở chưa được thông qua, những bất cập trong quy định của pháp luật, của cơ chế chỉ đạo, điều hành vẫn hiện hữu tác động trực tiếp vào hoạt động chỉ đạo, phối hợp của lực lượng Công an xã chính quy trong công tác bảo đảm ANTT, lực lượng Công an xã chính quy cần tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các xã, thị trấn về công tác đảm bảo ANTT; tích cực tham mưu, đề xuất cấp ủy đảng, chính quyền cấp xã ban hành các văn bản chỉ đạo, quy định tạm thời về trách nhiệm tham gia bảo đảm ANTT của Công an bán chuyên trách, Dân phố, Dân phòng... Những quy định này bước đầu tạo căn cứ, cơ sở đế Công an xã chính quy chỉ đạo, phối hợp hiệu quả với các lực lượng nói trên trong đảm bảo ANTT ở cơ sở. Đồng thời, quá trình tổ chức tiến hành các mặt công tác nghiệp vụ lực lượng Công an xã cần tuân thủ pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Công an cấp trên cũng như các nguyên tắc, quy định của ngành Công an.
Năm là, lực lượng Công an xã chính quy tiếp tục nghiên cứu, phổi hợp với các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể tại địa phương xây dựng, ký kết và triển khai thực hiện các quy chế phối hợp trong công tác đảm bảo ANTT tại địa phương
Lực lượng Công an xã chính quy dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời xuất phát từ đặc thù của địa bàn cơ sở cần tiếp tục phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể tại địa phương xây dựng, ký kết và triển khai các quy chế phối hợp trong công tác đảm bảo ANTT tại địa phương như Ban Chỉ huy quân sự xã, các cơ quan, ban, ngành, trường học trên địa bàn. Trong đó, cần xác định rõ căn cứ xây dựng quy chế, cơ chế, nội dung, biện pháp phối hợp trong công tác đảm bảo ANTT. Nội dung phối hợp cần đi vào thực chất, bám sát chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an xã cũng như chức năng, nhiệm vụ, tính chất, đặc điểm của các cơ quan, ban, ngành, tình hình ANTT tại địa phương. Đồng thời, các quy chế phối hợp cần xác định rõ nhiệm vụ cụ thế của lực lượng Công an xã cũng như trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị phối hợp. Quá trình thực hiện các quy chế phối hợp cần định kỳ sơ kết, tổng kết, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, đảm bảo thiết thực, phát huy hiệu quả góp phần bảo đảm ANTT tại cơ sở.
Chủ trương xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy là một chủ trương mang tính chiến lược của Bộ Công an, đến nay đã phát huy hiệu quả rất tích cực, góp phần rất quan trọng vào công tác bảo đảm ANTT tại cơ sở. Tuy vậy, những quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của lực lượng Công an xã chính quy, nhất là trong việc chỉ đạo, phối hợp với các bảo vệ ANTT tại cơ sở còn những điểm bất cập cần tiếp tục nghiên cứu, không ngừng bổ sung hoàn thiện trong thời gian tới nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng này, góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân đến năm 2030 cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Đại tá, PGS, TS Phan Bá Toản
Trưởng phòng Quản lý nghiên cứu khoa học -
Tổng biên tập Tạp chí Khoa học & Giáo dục an ninh - Học viện ANND
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Công an (2021), Báo cáo sơ kết kết quả triên khai thực hiện chủ trương xây dựng công an xã, thị tran chỉnh quy; triển khai xây dựng công an phường điển hình, kiêu mẫu về ANTT và văn minh đô thị.
2. Bộ Công an (2021), Thông tư số 46/2021/TT-BCA ngày 05/5/2021 của Bộ trưởng Bộ Công an “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Công an xã
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật.
4. Quốc hội (2015), Luật Tồ chức chính quyền địa phương, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2016.
5. Quốc hội (2019), Luật Cán bộ, công chức 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2019, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.
6. Quốc hội (2018), Luật Công an nhân dân, thuvienphapluat. vn.
Tag:
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Lễ Khai giảng các lớp Trung cấp lý luận chính trị Khoá 2 mở tại Học viện
- Rực rỡ sắc màu chương trình nghệ thuật “Mừng Đảng quang vinh - Mừng xuân Đất nước”
- Sôi nổi giải thể thao nhân kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026)
- Học viện An ninh nhân dân tổ chức Về nguồn và Chương trình an sinh xã hội tại tỉnh Điện Biên
- Khơi dậy khát vọng hội nhập tại Chung kết Olympic Tiếng Anh Học viện ANND