Một số nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính
Ngày 25/6/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính bị tác động bởi sắp xếp, tổ chức bộ máy; kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thi hành, đảm bảo hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội; đơn giản hóa thủ tục trong xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm tính linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thi hành pháp luật. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính gồm 3 điều: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 2. Hiệu lực thi hành và Điều 3. Quy định chuyển tiếp.

(Hình ảnh từ: thuvienphapluat)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có một số nội dung cơ bản như sau:
Một là, sửa đổi về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (Điều 6)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây: Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng; thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường; năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Như vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã bổ sung lĩnh vực khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh có thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm; bên cạnh đó còn quy định vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, kiểm toán độc lập.
Hai là, bổ sung quy định xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử (Điều 18a)
Đây là một bước đột phá quan trọng trong công tác cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện khi đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và thông tin. Quy định này yêu cầu việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ liệu phải đảm bảo tính toàn vẹn, xác thực, an toàn và đúng mục đích, phạm vi theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phải đảm bảo kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc áp dụng các quy trình điện tử trong xử lý vi phạm hành chính sẽ mang lại nhiều lợi ích, tăng cường hiệu quả bằng cách tự động hóa các thủ tục, giảm thiểu giấy tờ và thời gian xử lý và nâng cao tính minh bạch, khả năng giám sát.
Ba là, sửa đổi quy định về chức danh có thẩm quyền xử phạt (Điều 37a)
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã thay đổi cách tiếp cận theo hướng bãi bỏ các quy định cụ thể đối với từng chức danh có thẩm quyền phạt tiền, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả (từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020). Quy định mới của Luật chỉ liệt kê các chức danh có thẩm quyền xử phạt và giao Chính phủ quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định cũng như dự liệu tình huống cho phép Chính phủ quy định thẩm quyền xử phạt đối với các cơ quan, lực lượng mới được thành lập đáp ứng yêu cầu thực tiễn giai đoạn cải cách tổ chức, bộ máy hiện nay.
Bốn là, sửa đổi, bổ sung quy định về giao quyền xử phạt vi phạm hành chính (Điều 54)
Theo quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Quy định này nhằm tăng cường tính linh hoạt và hiệu quả trong công tác xử phạt, giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết các vụ việc, đặc biệt trong trường hợp cấp trưởng vắng mặt hoặc có quá nhiều vụ việc cần xử lý.
Năm là, quy định tăng mức xử phạt đối với các trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản (Điều 56)
Theo quy định mới, mức phạt tiền tối đa được áp dụng cho hình thức xử phạt này đã tăng gấp đôi so với trước đây. Cụ thể, đối với cá nhân, mức phạt tiền không lập biên bản được nâng từ 250.000 đồng lên đến 500.000 đồng. Đối với tổ chức, mức phạt này tăng từ 500.000 đồng lên đến 1.000.000 đồng. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng quy định trong trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản trên thì người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt tại chỗ. Điều này giúp tiết kiệm đáng kể thời gian và nguồn lực cho cả cơ quan nhà nước và cá nhân, tổ chức vi phạm, đẩy nhanh quá trình giải quyết các vụ việc đơn giản, từ đó nâng cao hiệu quả tổng thể của công tác xử lý vi phạm hành chính hiện nay.
Sáu là, bổ sung quy định quyết định xử phạt vi phạm hành chính có thể được gửi bằng phương thức điện tử (Điều 70)
Theo quy định mới, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định xử phạt, người đã ra quyết định xử phạt phải gửi quyết định đó cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và các cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành. Các hình thức gửi quyết định xử phạt hiện nay bao gồm: (1) Giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt; (2) Gửi qua dịch vụ bưu chính bằng hình thức bảo đảm; (3) Gửi bằng phương thức điện tử; (4) Trường hợp không thể thực hiện được các hình thức trên, có thể niêm yết công khai quyết định xử phạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt, hoặc gửi quyết định xử phạt đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt. Việc bổ sung hình thức gửi bằng phương thức điện tử là một bước tiến quan trọng, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp nhận thông tin của cá nhân, tổ chức, đồng thời đẩy nhanh quá trình thi hành quyết định xử phạt.
Bảy là, quy định tăng thẩm quyền cho Công an cấp xã trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
Kế thừa thẩm quyền của Trưởng Công an cấp huyện trước đây, theo quy định tại khoản 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp xử lý hành chính như đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện đối với người nghiện ma túy khi đủ điều kiện.
Việc sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý về xử lý vi phạm hành chính, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả công tác thi hành pháp luật; đồng thời đảm bảo tính minh bạch, công bằng và quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức./.
Khoa Luật.
Tag:
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
- Trao Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng tặng Tổng Bí thư Tô Lâm
- Đồng chí Tô Lâm được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
- Toàn văn Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV
- Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
- Chủ tịch nước Lương Cường trình bày Diễn văn khai mạc Đại hội XIV của Đảng